am dao gia - An Overview

Chuyện cũng chẳng mới mẻ gì. Cổ đại La tinh đã coi dịch là cướp, giống như mấy trò chém giết (đàn ông), hãm Helloếp (đàn bà), cướp bóc vàng bạc của cải, đất đai.

Tiếng em cười tan vỡ thủy tinh Cái tuổi hồn nhiên mấy ngõ đường Những thoáng vu vơ, những thoáng tình Những trời bông phấn thoáng đầy hương Mây chiều buông xõa tóc nghiêng dài Nắng hồng dịu ngọt thấm bờ vai Kỷ niệm có còn trong trí nhớ? Hay đã bay rồi, thoáng mây bay...

Bước five: Chuyển sang văn viết: Văn nói thường rất luộm thuộm. Cần trau chuốt. Dùng các phương pháp như phép tỉnh lược, phép thế, phép mở rộng, ... ngoại trừ phép hoán vị. Bước 6: Đối chiếu nội dung văn viết bản dịch với bản gốc xem có sát nghĩa không. Bước seven: Xem cách hành ngôn có mất tự nhiên quá hay không (lấy văn nói làm mẫu đối chiếu). Bước 8: Lập lại bước 1 cho câu kế tiếp.

Phải đợi đến những nhà văn di dân thời kỳ hậu thuộc địa, người ta mới Helloểu được, chuyện viết văn bằng tiếng nước ngoài, không phải là mất gốc, mà là ngược lại: nói rõ hơn, muốn không mất gốc, là phải viết văn bằng tiếng nước ngoài!

Viết hay/dở còn tùy vào cách dùng chữ, cách tỉnh lược, cách bố cục, ... và đặc biệt là ý tưởng. Người viết tiếng Anh/Pháp/Đức ... cũng chỉ dùng bao nhiêu đấy loại ngữ đoạn để diễn đạt ý tưởng. Tiếng Việt cũng có các loại ngữ đoạn ấy.

Và nếu nó bị ô nhiễm, thì cũng chỉ ở bên ngoài, chưa đụng tới phần cốt tủy của nó.

Có giải thuật nhưng chưa hẳn là không có điều kiện. Ví dụ, giải thuật 1 chỉ ứng dụng được đối với người dịch ít nhiều đã Helloểu các nguyên tắc hành ngôn theo tiếng Việt (tính cảm đề, tính tịnh tiến, tính tỉnh lược, tính đề diễn, ...) cũng như đã hiểu thành tố, ngữ đoạn là gì.

Kết quả, chúng có thể giải thích được các ngôn ngữ Ấn-Âu (Thổ, Ba Lan, Ý, ...), kể cả tiếng Tàu cũng không thành vấn đề, song đụng tới tiếng Việt là thất bại ngay. Tại sao ? Bởi làm sao có thể giải thích hoàn hảo được tính cảm đề của tiếng Việt, hoặc tính tỉnh lược, hoặc những loại hư từ đa năng không nằm trong các lớp từ như “verb class”, “noun course”, “adjective course”, “prepositional course”, .

Quốc phá sơn hà tại, Thành xuân thảo mộc thâm. Cảm thời hoa tiễn lệ, Hận biệt điểu kinh tâm. Phong hoả liên tam nguyệt, Gia thư để vạn kim. Bạch đầu tao cách đoản, Hồn dục bất thắng trâm.

Nhân đây, tôi cũng xin nói thêm rằng tôi không đồng ý với chuyện "Ông Tường bảo ông muốn dịch là “Nhân gian”, vì cái tên gốc có cả phần đất và phần người, hai cái tên dịch kia nhấn nhiều về phía người".

Vâng, tạm "thông qua", vì không rành văn hoá của âm đạo giả ad502 nước ngoài thì "nhìn chung" cũng có thể châm chước được (mặc dù đối với giới dịch thuật chuyên nghiệp thì đây là điều không thể khoan thứ).

Đoạn văn dịch trên đây thật dễ đọc, và chẳng có gì là khó hiểu, hay lủng củng, nhưng với một độc giả "đọc đến nơi đến chốn", không có trong tay, hoặc không thể đọc nguyên bản, chỉ căn cứ vào bản tiếng Việt, sẽ có ít ra là hai "thắc mắc" sau đây:

Personne d autre ne contemple les fleurs; il y en a plein. Elles éclorent d une manière attrayante, Mais le mauvais temps a réduit leur splendeur. Dans la vie, existent parfois des matins radieux, De sombres crépuscules, autant de changements. .....

1954, vào Nam, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền có lẽ là một trong những người đầu tiên có những dòng thơ văn về Hà Nội, bên cạnh những dòng nhạc của một "Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội", hay "Hướng Về Hà Nội".

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *